Liên kết hữu ích
Quảng cáo













TIN TỨC

(ĐCSVN) - Với tốc độ tăng trưởng GDP 7,9%, bức tranh toàn cảnh kinh tế 6 tháng đầu năm của nước ta được đánh giá là khả quan, có nhiều điểm sáng so với cùng kỳ các năm trước. Đó là những tín hiệu lạc quan. Tuy nhiên, chúng ta cũng phải rất cố gắng mới có thể đạt tốc độ tăng GDP-8,5% cho cả năm 2007.


Để rõ hơn về vấn đề này, PV Báo Điện tử ĐCSVN đã có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Sinh Cúc- Nguyên Vụ trưởng Vụ Nông-Lâm, Tổng Cục thống kê về bức tranh tế-xã hội 6 tháng đầu năm và những giải pháp cho 6 tháng cuối năm, nhằm đạt cho được mục tiêu đề ra của cả năm.

Nhìn lại bức tranh kinh tế 6 tháng đầu năm, ông có thể đánh giá những điểm sáng mà chúng ta đã đạt được trong thời gian qua?

Nhìn vào bức tranh kinh tế- xã hội Việt Nam thời gian qua, chúng ta có thể nhận thấy đã có bước phát triển mạnh mẽ, với 4 điểm sáng đáng ghi nhận.

Thứ nhất, tốc độ tăng GDP đạt 7,9% là mức cao so với cùng kỳ năm 2006. Tốc độ đó đạt đựơc trong bối cảnh có nhiều khó khăn do thị trường, giá cả thế giới biến động bất lợi và ở trong nước, thiên tai, dịch cúm gia cầm tái phát, dịch lở mồm long móng gia súc lan rộng... Đó là kết quả đáng ghi nhận.

Thứ hai, hoạt động dịch vụ khởi sắc, 6 tháng qua GDP khu vực này tăng trưởng 8,4%, là mức cao nhất kể từ trước đến nay, cao hơn hẳn tốc độ tăng cùng kỳ những năm gần đây: năm 2004 tăng 6,96%; năm 2005 tăng 7,73%; năm 2006 tăng 7,78%. Sự khởi sắc bước đầu này có ý nghĩa nhiều mặt, trước hết đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng GDP chung, trong khi nông nghiệp giảm, góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng dịch vụ trong GDP lên 30,85% so với trên 30% cùng kỳ năm 2006. Mặt khác, sự khởi sắc đó đã khắc phục được nhược điểm, yếu kém vốn tồn tại lâu dài của nhiều năm trước đây.

Thứ ba, xuất khẩu đạt mức cao nhất từ trước đến nay. Kim ngạch xuất khẩu đạt 22,46 tỷ USD, tăng 19,4% so cùng kỳ năm 2006. Cơ cấu mặt hàng có chuyển biến theo hướng đa sản phẩm. Số lượng các mặt hàng đạt kim ngạch trên 1 tỷ USD tăng từ 4 mặt hàng của cùng kỳ năm 2006 tăng lên 7 mặt hàng trong 6 tháng đầu năm. Có 22/25 mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu tăng so cùng kỳ trong đó có 5 mặt hàng tăng trên 30%, riêng cà phê tăng gấp hơn 2 lần. Trong bối cảnh thị trường xuất khẩu biến động bất lợi, nhất là giày, dép, dệt may, thuỷ sản, kết quả xuất khẩu đạt mức tăng trưởng như trên là đáng ghi nhận.

Thứ tư, thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt mức kỷ lục, 6 tháng đầu năm đã thu hút 5,21 tỷ USD nguồn vốn FDI đăng ký, tăng 8,5% so cùng kỳ năm trước và đạt 50% mục tiêu đề ra cho cả năm 2007. Số dự án cấp mới là 575 với tổng số vốn đăng ký 4,3 tỷ USD, tăng 69,6% về số dự án và tăng 6,4% về vốn đăng ký so cùng kỳ năm trước. Với kết quả này, khả năng thu hút 10 tỷ USD trong năm 2007 là hoàn toàn có cơ sở.

Bên cạnh những điểm sáng đã đạt được, vậy theo ông đâu là điểm bất cập đáng lo ngại?.

Ngoài những mặt đạt được như đã đề cập ở trên, chúng ta có thể thẳng thắn nhìn nhận những điểm bất cập đáng lo ngại hiện nay của kinh tế- xã hội trong nước, đó là:

Sản xuất nông nghiệp còn bộc lộ nhiều bất cập, hạn chế, chủ yếu do nguyên nhân chủ quan. So với cùng kỳ năm 2006, giá trị sản xuất nông nghiệp chỉ tăng 1,99%, trong đó trồng trọt tăng 1,1%, chăn nuôi tăng 5,1% là tốc độ tăng trưởng thấp nhất trong những năm gần đây.

Sản lượng lúa vụ đông xuân giảm 531 nghìn tấn, trong đó các tỉnh phía Bắc giảm gần

600 nghìn tấn, là hiện tượng chưa từng có trong các năm gần đây. Lượng gạo xuất khẩu cũng giảm gần 19% và kim ngạch giảm 5,6% so cùng kỳ. Trong chăn nuôi, đàn lợn giảm 384 nghìn con (1,4%) do dịch lở mồm long móng, dịch bệnh" tai xanh", giá thức ăn tăng cao, dịch cúm gia cầm tái phát trên diện rộng. Tình trạng giấu dịch vẫn diễn ra khá phổ biến đối với cả dịch lở mồm long móng và dịch cúm gia cầm, gây hậu quả khá nặng nề.

Bên cạnh đó, sản xuất công nghiệp vẫn tăng trưởng không đều và không vững. Đạt được tốc độ tăng trưởng 16,9% là nhờ khu vực ngoài nhà nước tăng 20,5%, khu vực FDI tăng 19,3%. Trong khi đó khu vực doanh nghiệp nhà nước vừa chiếm tỷ trọng bé lại tăng trưởng chậm 8,5% , thấp hơn cùng kỳ năm 2006. Ba trung tâm công nghiệp lớn là Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng và Bà Rịa-Vũng tàu đều đạt tốc độ tăng trưởng thấp. Trong số 36 sản phẩm công nghiệp chủ yếu có 24 sản phẩm chỉ đạt tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất từ 15% trở xuống, trong đó có 7 sản phẩm tăng dưới 10% và 5 sản phẩm giảm so với 6 tháng đầu năm 2006.

Tốc độ giải ngân vốn các dự án quốc gia còn rất chậm. Tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước trong 6 tháng của nhiều Bộ, ngành và địa phương đạt rất thấp so với kế hoạch cả năm. 16/20 tỉnh, thành đạt dưới 50%, trong đó có 8 tỉnh đạt dưới 40%. Vốn FDI cho khu vực nông lâm thuỷ sản còn quá ít 81,5 triệu USD, chiếm 2,1% tổng số vốn đăng ký trong 6 tháng, trong khi khu vực này lại rất thiếu vốn. Đây là sự mất cân đối lớn về thu hút vốn FDI cần khắc phục trong 6 tháng cuối năm.

Nhập siêu 6 tháng lên tới 4,78 tỷ USD, bằng 21,2% so với cùng kỳ. Một số mặt hàng nhập khẩu 6 tháng qua tăng đột biến như ô tô tăng 41%, xe máy tăng 42% (cùng kỳ 2006 giảm 65% và 11,4%), trong khi đó các mặt hàng này sản xuất trong nước đủ khả năng đáp ứng yêu cầu thị trường. Nếu duy trì tỷ lệ nhập siêu cao như vậy, đó là điều đáng lo ngại.

Chỉ số giá tiêu dùng tăng cao, lạm phát sắp vượt tầm kiểm soát. So với tháng 12 năm 2006, chỉ số giá tiêu dùng tháng 6 tăng 5,2%, trong đó nhà ở và vật liệu xây dựng tăng cao nhất 8,24%. Dự báo tốc độ tăng giá còn tiếp tục trong 6 tháng cuối năm với tốc độ tăng trung bình 0,5%/tháng.

Về du lịch, chất lượng và sản phẩm còn nghèo, đơn điệu chưa tương xứng với tiềm năng. Hoạt động quảng bá du lịch, lễ hội mở ra khá nhiều nhưng nặng về phong trào, hình thức, phô trương, nội dung nghèo, không hấp dẫn nên hiệu quả thấp.

Thu chi ngân sách đạt thấp so dự toán cả năm, 6 tháng đầu năm thu ngân sách mới đạt 46,1%, trong đó thu nội địa đạt 48,6% dự toán cả năm. Chi ngân sách đạt 45,8%. Bội chi ngân sách còn lớn nhưng tỷ lệ bù đắp bằng vay ngoài nước lại khá cao 28,3%, cao hơn cùng kỳ các năm trước, là chưa hợp lý.

Vậy theo ông trong thời gian tới chúng ta phải làm gì để đạt tốc độ tăng trưởng GDP 6 tháng cuối năm là 9%, hoàn thành mục tiêu GDP từ 8,5% trở lên trong năm nay?

Sáu tháng cuối năm, tình hình kinh tế nước ta phát triển trong bối cảnh khó khăn nhiều hơn thuận lợi, do vậy, chúng ta cần triển khai một số giải pháp chủ yếu sau:

Thứ nhất: Tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện và ban hành sớm các cơ chế chính sách kinh tế, tài chính phù hợp để giải phóng mạnh mẽ mọi nguồn lực sẵn có trong nước, đặc biệt là đối với nguồn vốn FDI đã đăng ký, vốn ODA cho đầu tư phát triển kinh tế.

Thứ hai: 6 tháng cuối năm 2007 các ngành các địa phương cần sớm công bố các dự án cần khuyến khích ưu tiên đầu tư phù hợp với yêu cầu và khả năng của ngành và địa phương mình. Tuy nhiên, cơ cấu dự án đầu tư mời gọi nên ưu tiên cho lĩnh vực nông lâm nghiệp thuỷ sản và dịch vụ, trong đó đặc biệt ưu tiên khu vực khách sạn nhà hàng, tài chính, ngân hàng... Đối với ngành công nghiệp, lĩnh vực cần thu hút vốn FDI cần ưu tiên là các ngành chế biến lương thực, thực phẩm cao cấp, xây dựng nhà ở cao cấp, khu đô thị mới.

Thứ ba: Đẩy mạnh xuất khẩu, điều chỉnh cơ cấu hàng nhập khẩu để giảm nhập siêu. Đặc biệt chú trọng một số thị trường lớn như Mỹ, Trung Quốc ,EU, Nhật Bản, Ấn Độ, Trung Đông.. Để tăng kim ngạch xuất khẩu trong bối cảnh Việt Nam là thành viên WTO. Đối với hàng nhập khẩu, cần hạn chế nhập các hàng hoá trong nước đã sản xuất được như ô tô, xe gắn máy, hàng tiêu dùng hoặc nguyên liệu chưa cần thiết nhưng không trái với cam kết WTO...

Thứ tư: Tập trung các nguồn lực và cơ chế chính sách kinh tế-tài chính để phát triển nông, lâm, thuỷ sản tương xứng với vị trí và tiềm năng của nước ta. Kiểm soát chặt chẽ đi đến khống chế và loại trừ dịch cúm gia cầm, dịch lở mồm long móng gia súc, bệnh rầy nâu, vàng lùn, lùn xoắn lá lúa hè thu và lúa mùa ở cá tỉnh phía Nam, nhất là ĐBSCL, chỉ đạo quyết liệt tiến độ thực hiện các dự án trồng rừng tập trung và bảo vệ rừng, đồng thời, đẩy mạnh công tác tuyên truyền vận động các hộ nông dân, ngư dân các chủ trang trại về chính sách, pháp luật, các cam kết của Việt Nam khi gia nhập WTO.

Thứ năm: Kiềm chế lạm phát bằng cách tăng cường công tác quản lý thị trường và giá cả trong nước, chống các xu hướng đầu cơ, lợi dụng để tăng giá kiếm lời bất chính của các doanh nghiệp, tư thương, nhất là đối với các mặt hàng nhà nước còn quản lý (điện, than, xi măng, nước sinh hoạt, Bưu điện, xăng dầu...; Đổi mới phương pháp dự báo giá cả để không lặp lại tình trạng bất cập dự báo giá sai quá lớn trong 6 tháng đầu năm, lập lại các cân đối cung cầu về hàng hoá và tiền mặt trên thị trường, đảm bảo cân đối cung- cầu cho phù hợp.

Thứ sáu: Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong sản xuất và tiêu dùng, dành vốn cho đầu tư phát triển kinh tế và nâng cấp kết cấu hạ tầng. Giải pháp này còn nhằm giảm chi phí trung gian, tăng giá trị tăng thêm của các ngành sản xuát và dịch vụ trong 6 tháng cuối năm.

Thứ bảy: Phát triển mạnh khu vực dịch vụ nhất là du lịch bằng các biện pháp thích hợp như tăng cường các sản phẩm du lịch, mở rộng phạm vi miễn thị thực đối với khác du lịch quốc tế, giảm giá vé khách sạn, khu vui chơi giải trí, tăng thu nhập cho dân cư.

Thứ tám: Tận thu ngân sách và tiết kiệm chi một cách hợp lý, trong đó, thực hiện nghiêm chỉnh các loại thu nội địa theo đúng Luật thuế hiện hành. Hạn chế chi tiêu từ ngân sách nhà nước như: Hạn chế chi tiêu cho hội họp sơ kết, tổng kết cuối năm mang tính hình thức phô trương, chi khởi công hoặc khánh thành công trình xây dựng, chi tham quan, khảo sát hoặc tập huấn không thật cần thiết; khoán chi đối với khu vực hành chính sự nghiệp; xoá bỏ triệt để các khoản chi có tính bao cấp...

Thứ chín: Tập trung nguồn lực, nhân lực của nhà nước, doanh nghiệp và nhân dân để làm tốt công tác chuẩn bị phòng chống bão lũ trong 6 tháng cuối năm. Giải pháp cụ thể là củng cố đê, kè, cống, các công trình giao thông, thuỷ lợi, thuỷ điện, cá hồ đập thuy lợi, thuỷ điện, nhằm giảm thiệt hại về người và tài sản đến mức thấp nhất khi có bão, lũ xảy ra.

(Nguồn: Website Đảng Cộng sản)

Share on Facebook Share on Twitter Share on Google Share on Buzz